https://www.facebook.com/dr.phuongnguyenle/posts/pfbid02mi5FZBhP1buDNPFBtKisutGePqstHqC2L131zFM2eG66m2cNGSDKEwTrPypdcTdKl
Nắng qua đèo là thứ ánh sáng không ở lâu. Nó đến muộn vì bị núi che. Nó đi sớm vì mặt trời vừa nghiêng là bóng đã đổ xuống. Nó không chan hòa như nắng đồng bằng, không thản nhiên như nắng trên biển, mà ngắn ngủi, xiên lệch, chập chùng, lúc có lúc không. Một bên sáng, một bên tối. Chỗ này ấm, chỗ kia lạnh. Ánh sáng không bao giờ thuộc trọn về nơi ấy; nó chỉ lướt qua, chạm qua, để lại một thoáng vàng trên vách đá rồi mất. Nếu đem hình ảnh ấy mà nói về một con người, thì đó hẳn là một người có nội tâm mong manh, thất thường, sâu nhưng không ổn định; ấm áp đấy mà khó nắm, rực lên đấy mà không kéo dài, như thể tâm hồn họ luôn bị địa hình riêng của đời mình che khuất một nửa.
Mấy ngày nay tôi bị ám bởi nhạc điệu của bài Có một dòng sông đã qua đời của Trịnh Công Sơn. Không phải vì tình cờ gặp lại một “dòng sông nhỏ” nào trong đời mình rồi phát hiện nó đã cạn, đã đổi dòng, hay đã bị quy hoạch thành khu dân cư cao cấp. Cũng không hẳn vì đang hoài niệm về một bóng hình xưa nào đó, kiểu những thứ mà người ta rất thích gán cho âm nhạc Trịnh để tỏ ra mình từng đau, từng sâu, từng có một tuổi trẻ biết ngồi nhìn mưa trên tầng tháp cổ. Thật ra chỉ vì tôi bị mắc vào cái nhịp điệu tưng tửng của bài hát, và nhất là cái hình ảnh “có người lòng như nắng qua đèo”.
Lòng như nắng qua đèo là thế nào? Câu ấy nghe qua thì có vẻ rất thơ, rất Trịnh, rất dễ khiến người ta gật gù ra vẻ “à, hay quá”, rồi thôi. Nhưng nếu dừng lại mà hỏi cho đàng hoàng, thì nó là cái quái gì? Nắng qua đèo thì liên quan gì đến lòng người? Và vì sao không phải lòng như mưa cuối hạ, như gió đầu sông, như khói qua cầu, mà lại là nắng qua đèo? Tôi đã lẩm nhẩm câu ấy mấy ngày, không phải trong trạng thái xuất thần nghệ sĩ, mà trong trạng thái rất bình dân của một người bị một cụm từ đeo bám như một món nợ ngôn ngữ chưa trả được.
Tất nhiên, chắc chắn nó không liên quan gì đến cái trò nghịch ngợm thuở học trò của bọn con trai, gọi mấy đứa bạn phốp pháp là “hương qua đèo”. Tuổi trẻ của chúng ta, như thường lệ, luôn có một năng lực phi thường trong việc làm hỏng cái đẹp bằng sự láu cá của mình. Nhưng bỏ qua thứ hóm hỉnh vô duyên ấy, rồi một buổi sáng tôi chợt hiểu ra: “nắng qua đèo” không phải là một hình ảnh trang trí. Nó là mô tả của một kiểu hiện hữu.
Nắng qua đèo là thứ ánh sáng không ở lâu. Nó đến muộn vì bị núi che. Nó đi sớm vì mặt trời vừa nghiêng là bóng đã đổ xuống. Nó không chan hòa như nắng đồng bằng, không thản nhiên như nắng trên biển, mà ngắn ngủi, xiên lệch, chập chùng, lúc có lúc không. Một bên sáng, một bên tối. Chỗ này ấm, chỗ kia lạnh. Ánh sáng không bao giờ thuộc trọn về nơi ấy; nó chỉ lướt qua, chạm qua, để lại một thoáng vàng trên vách đá rồi mất. Nếu đem hình ảnh ấy mà nói về một con người, thì đó hẳn là một người có nội tâm mong manh, thất thường, sâu nhưng không ổn định; ấm áp đấy mà khó nắm, rực lên đấy mà không kéo dài, như thể tâm hồn họ luôn bị địa hình riêng của đời mình che khuất một nửa.
Chỉ một câu hát thôi mà phải nhai đi nhai lại mấy ngày mới hiểu lờ mờ như vậy. Nghĩ cũng buồn cười. Một bài hát nghe tưởng đơn giản mà còn thế, huống gì một bài viết về tâm lý hay triết học. Thế nhưng xã hội ta hiện nay lại đang phát triển một thứ mỹ học rất kỳ lạ: cái gì đọc lên mà hiểu ngay trong 12 giây thì được xem là sâu sắc, còn cái gì buộc mình dừng lại, quay lại, nghĩ thêm, thấy hơi vướng ở cổ họng trí tuệ một chút, thì bị kết án là “dài dòng”, “triết lý”, “khó hiểu”, “không thực tế”.
Người ta bây giờ rất thích sự dễ nuốt. Họ muốn ý tưởng phải được chế biến như cháo dinh dưỡng cho trẻ em: xay nhuyễn, nêm vừa miệng, xúc một muỗng là trôi, không cần nhai, không cần răng, không cần dạ dày trí thức. Một bài viết vừa mới dài hơn ba màn hình điện thoại là đã bị quy vào loại “viết cho ai đọc”. Một đoạn văn có hai mệnh đề phụ là bắt đầu có người than “sao không nói thẳng ra cho dễ hiểu”. Dễ hiểu ở đây nhiều khi không có nghĩa là sáng sủa, mà chỉ có nghĩa là không làm phiền đến cấu trúc nhận thức vốn đang ngủ yên của họ. Họ không cần chân lý; họ cần nội dung không gây đau đẻ tinh thần.
Điều đáng nói là họ lại rất tự hào về điều đó. Sự thiếu kiên nhẫn ngày nay không còn được cảm thấy như một khuyết điểm, mà được tái đóng gói thành một lập trường thẩm mỹ. Người ta không nói “tôi không đủ kiên nhẫn để đọc”, mà nói “bài này dài dòng quá”. Họ không nói “tôi chưa có nền tảng để theo được lập luận này”, mà nói “viết triết lý quá”. Họ không nói “tôi đọc chưa tới nơi tới chốn”, mà nói “không thực tế”. Tức là mọi giới hạn của người đọc được chuyển hóa rất khéo thành lỗi của người viết. Đó là một phép thần thông xã hội đáng nể: biến cái nông thành một chuẩn mực, rồi lấy chuẩn mực ấy để xét xử chiều sâu.
Nhưng khoa học về học tập thì vốn khá tàn nhẫn với những ảo tưởng tự ái như vậy. Học thật chưa bao giờ là một quá trình êm ái. Từ lâu tâm lý học phát triển đã cho thấy rằng con người không thực sự học khi chỉ hấp thụ những gì vừa khít với cái khung sẵn có của mình. Theo Piaget, chỉ khi có một sự xung khắc nhận thức xảy ra, khiến sơ đồ cũ không còn đủ để chứa trải nghiệm mới, thì quá trình điều ứng mới bắt đầu. Nói đơn giản, khi ta bị buộc phải nghĩ lại, tổ chức lại, sửa lại chính cái cách mình hiểu thế giới, thì việc học mới diễn ra. Còn nếu mọi thứ đều trơn tru, êm ái, hợp ý, vừa tai, vừa với mình từ đầu đến cuối, thì nhiều khả năng điều xảy ra không phải là học, mà chỉ là thủ dâm thành kiến.
Robert Bjork gọi đó là những “khó khăn mong đợi” , những trở ngại có lợi. Nghe rất phản giáo dục theo nghĩa thị trường. Phụ huynh đóng tiền thì muốn con học nhẹ nhàng, vui vẻ, tiếp thu nhanh. Học viên bỏ thời gian thì muốn được cảm giác “à, hiểu rồi”. Nhưng nghịch lý nằm ở đó: cảm giác dễ tiếp thu trong lúc học thường là một dấu hiệu cực kỳ không đáng tin. Nó giống như cảm giác mình khỏe mạnh vì trốn đi khám thường kỳ. Nó là một thứ ảo giác khỏe khoắn thông thạo. Ta tưởng mình hiểu chỉ vì thông tin vừa mới đi qua vùng chú ý ngắn hạn một cách êm ái, chứ chưa chắc nó đã ăn vào hệ thống trí tuệ của mình.
Dưới ánh sáng của mô hình xử lý tiên đoán, chuyện này càng trở nên rõ. Não bộ không ngồi đó như một cái xô chờ người ta đổ tri thức vào. Nó là một bộ máy dự đoán liên tục, luôn tạo ra mô hình nội tại về thế giới và kiểm tra xem thực tại có khớp với mô hình ấy không. Khi mọi thứ khớp, hệ thống chẳng có lý do gì để thay đổi. Nó tiếp tục sống bằng cái hiểu cũ. Chỉ khi nào có sai lệch dự đoán, tức là thực tại cư xử không đúng như những gì ta chờ đợi, thì não mới bị ép phải cập nhật. Học, ở nghĩa sâu nhất, không phải là nhét thêm dữ kiện vào đầu, mà là chịu để cho mô hình cũ của mình bị làm phiền, bị thách thức, bị sửa lại.
Nói cách khác, nếu anh đọc một bài viết và thấy hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn đồng ý, hoàn toàn không có gì cấn cái, thì hoặc anh đã hiểu quá sâu từ trước, hoặc anh chưa hề học được gì mới. Nhưng dĩ nhiên khả năng thứ hai thường phổ biến hơn mà ít ai thích thừa nhận. Con người hiện đại, vốn đã quen được các thuật toán phục vụ đúng khẩu vị, rất dễ nhầm giữa “nội dung phù hợp với tôi” và “nội dung làm tôi phát triển”. Một cái chỉ củng cố cái tôi hiện có; cái kia đòi hỏi cái tôi phải nhúc nhích. Mà nhúc nhích thì mệt.
Đó là lý do những khó khăn mong đợi có giá trị. Khi phải đọc chậm, phải dừng lại, phải quay lên, phải tra cứu, phải bực mình vì chưa hiểu, thì thật ra có thể chính lúc ấy não bộ mới bắt đầu làm việc nghiêm túc. Lỗi dự đoán [prediction error] xuất hiện. Mô hình cũ rạn ra một chút. Sự chú ý được tăng cường. Hệ thống phải phân biệt điều gì cần giữ, điều gì cần chỉnh. Học tập thật sự, vì thế, không có gì giống với thứ khoái cảm tiêu dùng mà nhiều người đang đòi hỏi từ tri thức. Nó giống lao động hơn. Mà đã là lao động thì phải đổ mồ hôi, kể cả mồ hôi nhận thức.
Đằng sau đó còn là cả một dàn nhạc thần kinh không lãng mạn chút nào. Dopamine không chỉ là chất gây vui như các video phổ thông hóa khoa học thường nói một cách đơn giản quá mức. Nó còn tham gia mạnh vào việc báo hiệu sai lệch kỳ vọng, tức là nó đã đánh dấu rằng: có cái gì đó vừa xảy ra khác với điều hệ thống tưởng (bở). Norepinephrine thì vào cuộc khi mức độ bất định tăng lên, giúp hệ thần kinh nâng tín hiệu cần chú ý lên cao hơn đám nhiễu nền. Nói dân dã hơn: khi ta hơi lo, hơi vướng, hơi bất an vì thấy mình không hiểu, đó không phải lúc bộ não hỏng; mà chính lúc đó nó đang khỏe mạnh nhất . Chừng nào sự lo âu ấy còn ở mức điều ứng được, nó có thể là một phần của học tập chứ không phải kẻ thù của học tập.
Nhưng xã hội tiêu dùng nội dung ngày nay lại muốn loại bỏ toàn bộ trải nghiệm ấy. Họ muốn học mà không bị thách thức, muốn trưởng thành mà không khó chịu, muốn sâu sắc mà không cần trầm tư, muốn có quan điểm mà không cần xây dựng nội lực nhận thức. Họ đòi tác giả phải làm hết phần việc khó khăn, còn mình chỉ việc gật đầu, chụp màn hình một câu nào đó, đăng lên mạng và xem như đã sống trí tuệ. Một nền văn hóa như vậy sớm muộn gì cũng sẽ sản xuất ra những con người rất giàu dị ứng nhưng rất nghèo tiêu hóa.
Tôi nhớ hồi khoảng mười bảy tuổi gì đó, khoảng năm 79 thì phải, không hiểu cắc cớ thế nào mình lại đi học sáng tác nhạc ở Nhà Văn Hóa Thanh Niên. Tuổi ấy người ta thường bận yêu đương vô vọng hoặc giải phương trình vô nghĩa, còn tôi lại ngồi nghe người lớn phân tích ca từ. Có một giảng viên, sau khi giảng xong, bèn phê bình rằng nhạc Trịnh Công Sơn hầu hết là vô nghĩa hoặc cạn cợt. Ông dẫn bài Diễm Xưa và nói chỉ có câu “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” là thực sự có ý nghĩa. Khi ấy quả thực tôi không đủ năng lực để tranh luận. Một phần vì trẻ, một phần vì thầy giáo ở bục giảng bao giờ cũng có cái uy quyền khiến nhiều điều nông cạn được nghe như chân lý.
Bây giờ nghĩ lại, tôi không chắc vấn đề nằm ở nhạc Trịnh hay nằm ở loại tiếp nhận chỉ công nhận ý nghĩa khi nó xuất hiện như một khẩu hiệu có thể gạch chân. Có một thứ tâm trí rất thích những câu phát biểu trực tiếp, tròn nghĩa, khép kín, có thể đem ra làm châm ngôn sống. Họ yên tâm trước những gì có thể tóm tắt. Còn ngôn ngữ biểu tượng, ẩn dụ, độ mở, tính đa nghĩa, những rung động chỉ hiểu được bằng sự chín muồi của trải nghiệm, thì họ xem là mơ hồ, phù phiếm. Nói cách khác, họ chỉ chấp nhận một loại ý nghĩa đã được sơ chế. Mọi chiều sâu chưa đóng hộp đều bị nghi ngờ.
Mà không chỉ trong âm nhạc. Cả trong tâm lý, triết học, giáo dục, thậm chí trong đời sống tinh thần nói chung, ta đang chứng kiến một sự lên ngôi của thứ chủ nghĩa minh họa. Người ta không còn kiên nhẫn sống cùng một câu hỏi, một băn khoăn, một ray rứt. Họ muốn câu trả lời ngay, càng ngắn càng tốt, tốt nhất là năm ý chính, ba bước thực hành, hai điều cần nhớ và một câu kết truyền cảm hứng. Họ muốn chân lý được trình bày như thực đơn cơm trưa của dân văn phòng. Món nào không ăn liền được thì bị xem là món dở.
Thế nên, khi gặp một bài viết buộc họ phải chậm lại, phải mang theo vài ngày, vài năm, thậm chí vài trải nghiệm sống mới thấm, họ nổi nóng. Nhưng sự nổi nóng ấy thật ra rất có thể không đến từ bài viết, mà đến từ việc họ bị lộ ra trước chính mình rằng năng lực ở cùng hay nhẫn nại với cái khó của họ quá yếu. Họ đã quen sống trong một hệ sinh thái tâm trí mà mọi thứ phải tức thì. Thế nên, chỉ cần một ý tưởng không chịu ngoan ngoãn chui vào cái khung sẵn có là họ thấy bị xúc phạm. Hay tại thế hệ này ăn quá nhiều mì gói.
Ở đây mới xuất hiện cái hài của đời sống trí thức hiện nay: chúng ta ca ngợi học tập suốt đời, nhưng lại sống theo kiểu né tránh mọi va chạm thật sự của việc học. Chúng ta nói rất nhiều về đổi mới sáng tạo, nhưng lại dị ứng với bất cứ ý tưởng nào không vừa khuôn nhận thức cũ. Chúng ta tung hô tư duy phản biện, nhưng chỉ thích phản biện những điều mình đã không thích từ trước. Chúng ta đòi hỏi chiều sâu, nhưng chỉ ở dạng đã được cắt lát mỏng, chiên giòn, chấm sốt và trình bày đẹp trên đĩa mạng xã hội.
Có lẽ vì vậy mà một câu hát như “có người lòng như nắng qua đèo” lại làm tôi suy nghĩ lâu như thế. Không chỉ vì nó đẹp. Mà vì nó nhắc rằng có những điều chỉ mở ra cho người đủ sức ở lại với chúng. Không phải cái gì không hiểu ngay cũng là vô nghĩa. Nhiều khi cái vô nghĩa nằm ở chính thói quen đòi đời sống phải tự phiên dịch mình theo tốc độ tiêu thụ của ta. Có những thứ cần được nghe nhiều lần, đọc nhiều lần, sống nhiều lần. Có những điều chỉ hiểu sau khi mình không còn là người cũ nữa.
Cho nên, nếu có điều gì đáng lo trong văn hóa học tập hiện nay, thì không phải là người trẻ không thông minh. Họ rất nhanh, rất nhạy, rất lanh. Nhưng sự nhanh ấy nhiều khi lại khiến họ thiếu một năng lực cổ điển mà mọi chiều sâu đều cần: năng lực chịu đựng sự chưa hiểu. Không phải ai chịu đựng được điều ấy cũng sẽ thành trí giả. Nhưng ai không chịu được nó thì gần như chắc chắn sẽ chỉ quanh quẩn trong vùng sáng ngắn ngủi của thứ nắng qua đèo trong chính tâm trí mình: lóe lên một chút, tưởng là đã thấy hết thế gian, rồi lập tức chìm vào bóng núi của những định kiến cũ.
Và biết đâu, đó mới là điều Trịnh Công Sơn hiểu rất rõ. Không phải chỉ có người lòng như nắng qua đèo. Cả sự hiểu của con người về đời sống nhiều khi cũng như nắng qua đèo: đến muộn, đi nhanh, chập chùng giữa sáng với tối, giữa tưởng đã hiểu với hóa ra mới chỉ đứng ở mép đèo nhìn xuống. Chúng ta sống, đọc, yêu, học, nghĩ, phần lớn là trong thứ ánh sáng không trọn ấy. Khác nhau chỉ ở chỗ có người đủ khiêm tốn để biết mình còn đang ở lưng đèo, còn có người vừa thấy một vệt nắng đã vội mở lớp dạy thiên hạ về mặt trời.
No comments:
Post a Comment