Tuesday, June 23, 2026

CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN – VÀ ĐIỀU GÌ SẼ XẢY RA NẾU CHÚNG TA BỎ LỠ MỘT GIAI ĐOẠN

 https://www.facebook.com/tamlyhoclagi/posts/pfbid02EeaYVau9fuUgt8jpuPN6Gqxn8fTSLBxHgaiXjRLX3QxmhdRvajtXuyRvS3CKJPsul

Một trong những khía cạnh kỳ lạ nhất trong cấu trúc tâm lý của con người là chúng ta cần trải qua một loạt các giai đoạn phát triển trong thời thơ ấu và tuổi vị thành niên để đạt được sự trưởng thành. Nhưng nếu vì bất kỳ lý do nào mà ta bỏ lỡ một giai đoạn nào đó, thì phần thiếu hụt này sẽ âm ỉ trong tiềm thức, thúc giục chúng ta quay lại để hoàn thiện nó, dù nó có thể chỉ là những nhu cầu của một đứa trẻ tập đi, ngay cả khi chúng ta đã bước sang tuổi trung niên.

🌸 Những giai đoạn phát triển quan trọng
Các giai đoạn trung tâm của tuổi thơ có thể được tóm tắt như sau:
- Giai đoạn được yêu thương (The Adored Stage)
Trong những tháng năm đầu đời, dù chưa làm được gì, chúng ta vẫn cảm nhận được sự chấp nhận và yêu thương sâu sắc từ những người chăm sóc mình, chỉ bởi vì ta đã hiện diện trên đời, yếu ớt, mong manh và (có lẽ) sở hữu một chiếc mũi xinh xắn dễ thương.
- Giai đoạn vô trách nhiệm (The Irresponsible Stage)
Đây là giai đoạn ta khám phá thế giới với sự tò mò đầy tự do, không phải chịu quá nhiều hậu quả hay gánh nặng. Ta có thể đặt câu hỏi, thử thả mọi thứ xuống sàn, búng mì ống lên trời hay hét “baaaa” cả trăm lần mà không ai cản trở.
- Giai đoạn nghịch ngợm (The Naughty Stage)
Đây là lúc ta có thể thoải mái bộc lộ sự bướng bỉnh, ganh tỵ, phá phách hay vi phạm các quy tắc – nhưng vẫn được tha thứ và không bị gán mác “xấu xa” hay “hư hỏng.”
- Giai đoạn học lễ nghĩa (The Manners Stage)
Ta bắt đầu học về tầm quan trọng của việc “ngoan ngoãn,” làm hài lòng người khác và thích nghi với những yêu cầu từ xung quanh.
Tuổi vị thành niên tiếp tục mang đến những giai đoạn phát triển khác:
- Giai đoạn nổi loạn
Ta hét vào mặt bố mẹ, tuyên bố rằng mình không bao giờ muốn được sinh ra, thách thức mọi loại quyền uy và cố gắng trở nên thật “dị biệt.”
- Giai đoạn khám phá tình dục
Ta bắt đầu cho phép bản thân tìm hiểu những mong muốn sâu thẳm về tình dục và khám phá con người thật của mình trong khía cạnh này.
- Giai đoạn trách nhiệm (The Responsible Stage)
Ta tìm thấy con đường nghề nghiệp, chấp nhận những đòi hỏi của học hành – và thích nghi với các giới hạn của công việc.
- Giai đoạn gắn bó cảm xúc
Ta từ bỏ niềm vui của sự khám phá tình dục để đón nhận niềm vui phức tạp của một mối quan hệ sâu sắc.
🌸 Điều gì xảy ra khi bỏ lỡ một giai đoạn?
Các giai đoạn này cần một môi trường đủ tốt để có thể diễn ra trọn vẹn. Ví dụ, giai đoạn nổi loạn cần cha mẹ biết chịu đựng sự cáu gắt và tức giận của con. Giai đoạn vô trách nhiệm cần người lớn chấp nhận cho ta nhảy nhót ầm ĩ trên ghế sofa suốt một giờ đồng hồ. Nhưng thực tế, không phải lúc nào điều kiện cũng thuận lợi. Có thể có trầm cảm, tức giận, một người anh chị em bị bệnh, một cuộc ly hôn hoặc những yếu tố khác buộc chúng ta phải nhảy cóc sang một phiên bản trưởng thành giả tạo.
Kết quả là, ta có thể trở nên “có trách nhiệm” trước khi kịp nổi loạn; cam kết cảm xúc trước khi được tự do khám phá tình dục; hoặc trở thành “người tốt” trước khi có cơ hội thử nghiệm sự nghịch ngợm.
Sự thiếu hụt này thường không lộ rõ ngay lập tức, nhưng theo thời gian, giai đoạn bị bỏ lỡ sẽ đòi hỏi được chú ý, có khi bằng cái giá làm đảo lộn cả cuộc đời chúng ta. Một nguyên tắc chung của tâm lý học là: không giai đoạn nào bị bỏ lỡ mà dễ dàng buông tha ta, cho đến khi nó được nhận ra, trân trọng, trải nghiệm và hoàn thành. Nếu ta cố gắng đè nén nó, nó sẽ dày vò tâm hồn và cơ thể, buộc ta phải đối mặt và sửa chữa.
Điều này giải thích vì sao một luật sư vốn rất trách nhiệm có thể đột nhiên, ở tuổi 42, bỏ lại gia đình để tham gia vào một cộng đồng sống tự cung tự cấp. Hoặc họ chọc tức sếp bằng một sai lầm kỳ lạ và bị sa thải. Hoặc một cụ già 80 tuổi ly hôn vì nhận ra rằng cả đời họ chưa bao giờ được ôm ấp và chấp nhận chỉ đơn thuần vì “họ là họ.” Hay một người 67 tuổi bỗng chốc lao vào rượu chè và hét lên giữa khu vườn lúc nửa đêm, để giải phóng năng lượng và sự tức giận mà họ chưa từng được phép thể hiện trong gia đình khi còn nhỏ.
🌸 Hồi phục những giai đoạn đã mất
Đôi khi, chúng ta nửa đùa nửa thật rằng mình ước có thể “trở lại làm em bé một buổi chiều.” Nhưng câu nói này ẩn chứa sự thật: có những phần trong ta luôn khao khát được trải nghiệm những gì ta đã không có đủ.
Điều tốt nhất ta có thể làm là nhận ra giai đoạn nào đã bị bỏ lỡ và tìm cách trải nghiệm nó một cách an toàn, hiệu quả mà không phá hỏng những gì đã đạt được ở các giai đoạn sau. Ta có thể phải giải thích với người bạn đời, đồng nghiệp hoặc bạn bè rằng mình đã bỏ lỡ giai đoạn được yêu thương, giai đoạn nghịch ngợm, hoặc giai đoạn khám phá tình dục. Điều này không hề dễ dàng cho bất kỳ ai.
Điều cuối cùng mà bài học này nhắn nhủ là: không nên ép ai trưởng thành quá sớm. Mỗi khi ta thấy một đứa trẻ hay thiếu niên được ca ngợi là “già trước tuổi” hay “đã rất chín chắn,” ta nên lo lắng và nếu đó là chính ta, ta nên tiếc nuối.
Thế giới sẽ bình yên hơn biết bao nếu những đứa trẻ trưởng thành ngoài mặt nhưng bên trong vẫn là những em bé khóc thầm hay những đứa trẻ cáu kỉnh được sống đúng với lứa tuổi của mình vào thời điểm an toàn và dễ dàng nhất để làm như vậy.
Nguồn: THE STAGES OF DEVELOPMENT – AND WHAT IF WE MISS OUT ON ONE…The School Of Life
Tranh: "Cậu bé trên những phiến đá," Henri Rousseau, khoảng năm 1895 – 1897 (Wikimedia Commons)


Wednesday, June 10, 2026

trong Phật giáo có 13 hạnh đầu đà

 https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c74ylrn9197o

Đoàn Walk for Peace không phải là một đoàn tu đầu đà (dhutanga) theo nghĩa chặt chẽ như cách nhiều người hiểu về các vị hành giả đầu đà ở Đông Nam Á, nhưng hành trình của họ được mô tả là lấy cảm hứng từ hạnh đầu đà trong truyền thống Phật giáo Theravāda.

"Nếu như nói tới bộ hành thì trong Phật giáo có 13 hạnh đầu đà mà Đức Phật đã dạy. Trong 13 hạnh đầu đà không hề nói rằng là phải đi bộ, mà chỉ có là tìm một trú xứ trong núi rừng hay là bãi tha ma, đất trống...

"Trong kinh thì Đức Phật nói là trú xứ đó phải cách xa với làng xóm 500 lần mũi tên bắn, để đảm bảo trú xứ đó không quá xa với làng mạc, để các chư tăng có thể xuống đó khất thực nuôi mạng rồi trở về tu tập và cũng không quá gần để sự tu tập bị làm phiền," sư Tuệ Nhân giải thích.

Ông nói thêm rằng 13 pháp hạnh đầu đà là chú trọng vào việc tu tập tự thân, ẩn tu chứ không đi bộ, cho nên "hành trình này mới gọi là Bộ hành vì Hòa bình chứ không phải là đi đầu đà."

Việc bộ hành này được giải thích là hạnh nguyện của chư tăng, để lan tỏa một thông điệp từ, bi, hỉ, xả và sự chánh niệm tỉnh giác.

"Tại sao không đi xe, đi máy bay mà phải đi bộ, vì khi đi bộ mình nhìn thấy mình được rõ ràng hơn, thấy được tâm thức của mình như thế nào khi đau, mệt, đói khát, bệnh tật...

"Mình cũng nhìn thấy những cảnh vật cây cối mà vốn dĩ nó đã tồn tại như vậy nhưng lâu nay không nhìn thấy được hết vẻ đẹp hay sự tàn lụi của nó.

"Mình cũng nhìn thấy được tất cả những con người bước ra ngoài đường chờ tăng đoàn hàng giờ, nhìn thấy nỗi khổ của họ và từ đâu mà họ đến," ông nói với BBC.

Friday, June 5, 2026

Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người....

 https://www.facebook.com/nguyen.n.an.14/posts/pfbid02xeAzo5HZrsgnjbv6Han1GmWmbW5uvsy58CGs9qriG4tTAzFofV2XbMNdYKXTUicUl

"Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người...."
Có những ngày sống cũng là gánh nặng.
Thức dậy vào buổi sáng không phải vì háo hức với một điều gì mới lạ đang chờ phía trước, mà đơn giản vì mình không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục.
Có những ngày, tiền bạc đè nặng trên vai.
Có những ngày, nhìn quanh thấy người mình từng giúp đỡ thì xa dần, người mình mong chờ thì im lặng.
Có những ngày, mọi dự định đều phải xếp lại sau những lo toan rất nhỏ: một bữa ăn, một bình xăng, một khoản chi chưa biết lấy đâu để bù đắp.
Và cũng có những ngày, lòng người mệt hơn cả thân xác.
Mệt vì nghĩ ngợi.
Mệt vì kỳ vọng.
Mệt vì những điều không thể nói ra.
Ở tuổi trẻ, ta thường nghĩ rằng chỉ cần cố gắng là đủ.
Đi qua nhiều năm tháng mới hiểu rằng có những đoạn đường không thiếu ý chí, không thiếu nghị lực, mà chỉ thiếu một chút may mắn, một chút thuận duyên, hoặc đơn giản là một bàn tay đưa ra đúng lúc.
Nhưng rồi, sau tất cả, mặt trời vẫn mọc.
Ngày mới vẫn đến.
Ta vẫn đứng dậy, pha một ly cà phê, nổ máy xe, tiếp tục công việc còn dang dở.
Không phải vì mình mạnh hơn ai.
Mà vì cuộc đời đã dạy rằng có những lúc chiến thắng lớn nhất không phải là thành công, mà là không bỏ cuộc.
Nên nếu hôm nay bạn thấy mệt, hãy cho phép mình được mệt.
Nếu hôm nay bạn thấy lòng chùng xuống, hãy cho phép mình được lặng yên.
Nhưng đừng vội quay lưng với ngày mai.
Bởi biết đâu, điều mà hôm nay ta chưa thấy lối ra, ngày mai lại xuất hiện một cánh cửa.
Hãy yêu ngày tới, dù quá mệt kiếp người.

Monday, June 1, 2026

Lúc già không dạy bảo con cháu, sau khi mất chẳng có ai nhớ tới.

 https://www.chuonghung.com/2020/02/dich-thuat-quan-tu-huu-tam-tu-khong-tu.html

Dịch thuật: Quân tử hữu tam tư ... ("Khổng Tử gia ngữ")


   孔子曰: “君子有三思, 不可不察也. 少而不学, 长无能也; 老而不教, 死莫之思也; 有而不施, 穷莫之救也. 故君子少思其长则务学, 老思其死则务教, 有思其穷则务施.
                                                                            (孔子家语 - 三恕)

          Khổng Tử viết: “Quân tử hữu tam tư, bất khả bất sát dã. Thiếu nhi bất học, trưởng vô năng dã; lão nhi bất giáo, tử mạc chi tư dã; hữu nhi bất thi, cùng mạc chi cứu dã. Cố quân tử thiếu tư kì trưởng tắc vụ học; lão tư kì tử tắc vụ giáo; hữu tư kì cùng tắc vụ thi.
                                                                 (Khổng Tử gia ngữ - Tam thứ)

          Khổng Tử bảo rằng: “Quân tử có ba điều phải suy nghĩ, không thể không xem trọng.
          - Lúc trẻ không học, đến khi trưởng thành không có kĩ năng.
          - Lúc già không dạy bảo con cháu, sau khi mất chẳng có ai nhớ tới.
          - Lúc giàu có không bố thí, khi gặp cảnh khồn cùng không có ai cứu giúp.
          Cho nên, quân tử:
- Lúc trẻ nghĩ đến khi già, phải ra sức học tập.
          - Lúc già nghĩ đến việc sau khi mất phải ra sức dạy bảo con cháu.
          - Lúc giàu có nghĩ đến khi gặp cảnh cùng khốn, phải ra sức bố thí.

Chú của người dịch
          Khổng Tử gia ngữ 孔子家语: còn gọi là Khổng thị gia ngữ 孔氏家语, nói tắt là Gia ngữ 家语. Đây là bộ trứ tác của Nho gia, nguyên bản có 27 quyển, bản hiện nay có 10 quyển, tổng cộng 44 thiên. Khổng Tử gia ngữ ghi lại tư tưởng cùng ngôn hành của Khổng Tử và môn đệ của Khổng Tử.
          Bản Khổng Tử gia ngữ hiện nay gồm 10 quyển, 44 thiên, Vương Túc 王肃 thời Nguỵ chú. Sau sách có  phụ thêm bài tự của Vương Túc, và “Hậu tự” 后序.
Quyển Khổng Tử gia ngữ do Vương Ứng Lân王应麟chủ biên, phần tự của Vương Túc để ở đầu sách và không có phần “Hậu tự”.
          Đoạn này ở quyển 2, thiên thứ 9 Tam thứ 三恕.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 25/02/2020

Nguồn
KHỔNG TỬ GIA NGỮ
孔子家语
Chủ biên: Vương Ứng Lân 王应麟
Trường Xuân . Thời đại văn hoá xuất bản xã, 2003

Ngọc khả toái nhi bất khả cải kỳ bạch; trúc khả phần nhi bất khả hủy kỳ tiết

 https://www.facebook.com/linhvuh/posts/pfbid02G4UVR13JSU7Nj9inxMYrf5c5z778Ef3dosmX1oHGinnU5czve4x5h1d1nR7AwGWRl

Ngọc khả toái nhi bất khả cải kỳ bạch; trúc khả phần nhi bất khả hủy kỳ tiết
(Ngọc dẫu vỡ vẫn không đổi sắc trong; trúc dẫu cháy vẫn không mất tiết thẳng.)
Nhân đọc Phẩm Tam Quốc của Dịch Trung Thiên, nghĩ về việc tại sao Quan Vũ lại được người Hoa thờ cúng nhiều như vậy.
Trong nhiều cửa tiệm của người Hoa, tượng Quan Công thường không tạo cảm giác cầu an dễ dãi. Bên canh Phật Di Lặc với cái bụng tròn to và khuôn mặt luôn tươi cười vô lo, Quan Công với thanh đao lớn, đôi mắt nhíu lại và khuôn mặt dữ dằn là sự tương phản trái ngược. Và những người cầu cúng ông sẽ phải đối mặt trước những câu hỏi âm thầm: bạn có giữ tín hay không, có nghĩa khí không, có dám chấp nhận hy sinh khi cần thiết không?
Và ở điểm này, vai trò của Quan Công khác nhiều vị thần dân gian. Ông không chỉ ban phúc. Ông làm chứng.
Từ một võ tướng chết trong thất bại, Quan Vũ bước vào đời sống Á Đông như một vị thánh của lời thề. Kinh Châu mất, Mạch Thành bị vây, thế cờ Thục Hán rạn vỡ, đời ông khép lại không phải trong hào quang chiến thắng mà trong đoạn kết cay đắng của một danh tướng chủ quan, cứng cỏi và có phần thiếu tỉnh táo chính trị. Nhưng văn hóa dân gian không nhất thiết thờ người thắng cuối cùng. Nó còn thờ, và thường thờ nhiều hơn, là những người thất bại, những kẻ chết oan hay những ai tin và đau đáu về một điều gì đấy…Quan Vũ không giữ được Kinh Châu, nhưng trong trí tưởng tượng của nhiều thế hệ, ông giữ được phần khó giữ hơn: nghĩa khí khi sinh mạng đã bị đặt lên bàn cân.
Câu nói thường được gán cho ông như một lời cuối trước khi bị bắt và bị chém đầu trong Tam quốc diễn nghĩa: “Ngọc khả toái nhi bất khả cải kỳ bạch; trúc khả phần nhi bất khả hủy kỳ tiết” vì thế có sức nặng vượt khỏi một lời thoại văn chương. Ngọc có thể vỡ mà không đổi sắc trắng; trúc có thể cháy mà không mất đốt thẳng. Đó là một tuyên ngôn đạo đức của một kẻ sống trong thời cuộc đảo điên, nơi dường như không có một sự neo giữ nào của đạo đức và lý trí con người. Đó cũng là một đường ranh: có những thứ con người không đem ra mặc cả, kể cả khi sự sống đã thành cái giá cuối cùng.
Nếu đọc Quan Vũ theo ngũ đức của Nho Giáo (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) thì Quan Vũ là một hình tượng rất thiếu toàn vẹn. Cái nhân của ông không rộng theo kiểu yêu thương thiên hạ, mà gắn với những món nợ cụ thể trong đời sống thời loạn. Ai từng có ân thì phải nhớ, ai đã là huynh đệ thì không bỏ, ai đã nhận làm chủ thì không phản. Chuyện Hoa Dung đạo, dù thuộc văn học nhiều hơn sử học, chạm đúng mạch ấy: Quan Vũ tha Tào Tháo vì không thể xóa sạch ân cũ chỉ vì lúc này, y là kẻ thù của ta. Chữ nhân của Vũ, thật ra cũng gần với chữ nghĩa hơn.
Và chính chữ nghĩa mới là nơi Quan Vũ trở thành Quan Công. Ở Tào doanh, ông được trọng đãi bằng chức tước, vàng bạc, ngựa quý và sự kính trọng của Tào Tháo, một đối thủ đủ lớn để bất kỳ võ tướng nào cũng phải cân nhắc. Khi biết Lưu Bị còn sống, ông rời đi. Lựa chọn ấy đáng kể chính vì Tào có ân; nếu Tào bạc đãi, chuyện rời đi sẽ quá dễ. Ở đây, đạo đức của Quan Vũ căng lên giữa hai món nợ: ân với Tào và nghĩa với Lưu.
Chính phẩm chất ấy làm Quan Vũ hấp dẫn trong những xã hội luôn sợ lòng người đổi màu. Thời Tam Quốc là thời của kết minh và phản minh, hàng phục và trá hàng, danh nghĩa và lợi ích xoắn vào nhau. Lã Bố phản Đổng Trác. Tào Tháo giết cả nhà Lã Bá Sa, Lưu Bị cướp đất Lưu Chương…. Nhưng người ta càng quen với sự linh hoạt của kẻ khôn ngoan thì lại càng cần một hình tượng không thay đổi. Quan Công, trong trí nhớ dân gian, là người đứng im ấy: mặt đỏ, mắt nghiêm, tay giữ đao, lòng không chuyển.
Nhưng phẩm chất làm ông cao lên cũng kéo theo bi kịch. Một người quá nặng nghĩa thường khó mềm; một người quá tin vào khí tiết của mình dễ xem nhẹ sự uyển chuyển của chính trị và không hiểu được sự nông sâu của những mưu cơ.
Quan Vũ giữ lễ rất nghiêm với những quan hệ ông công nhận: với Lưu Bị là quân thần và huynh đệ, với lời thề là ràng buộc cả đời, với Tào Tháo là món nợ không thể vờ quên. Hình tượng ông cầm đuốc đứng trước cửa phòng chị dâu cả đêm, có thể là câu chuyện bịa đặt nhưng đó là một minh họa điển hình của con người giữ lễ theo đạo Nho giáo. Nhưng lễ trong chính trị còn là khả năng ứng xử với người mình không ưa. Cách đối xử đầy ngạo mạn của Quan Vũ với Tôn Quyền cho thấy ông không có sự uyển chuyển của một chính trị gia và sự khiêm cung của người quân tử. Bùi Tùng Chi chú về ông trong Tam Quốc Chí “Vũ khéo đối xử với sĩ tốt mà kiêu ngạo với sỹ đại phu, Phi yêu kính người quân tử mà không thương xót kẻ tiểu nhân” là nói lên sự thiếu trọn vẹn về lễ (và cả nhân) của hai mãnh tướng phe Thục Hán vậy. Và dù được khen ngợi về việc ứng xử với sĩ tốt nhưng nếu xét tới việc khi Vũ thất trận, hầu hết tướng sĩ đều bỏ ông mà hàng giặc, chỉ còn đâu đó hơn 10 kỵ binh theo ông, cũng nói lên sự khiếm khuyết nào đấy trong cách đối xử với sĩ tốt của ông. Lấy ví dụ, so với Gia Cát Đản, khi thất trận có mấy trăm thủ hạ theo Đản đều không hàng mà chịu chém dù bản thân Đản đã bị giết trước đó.
Về trí, Quan Vũ đủ tài để làm danh tướng, đủ uy để trấn một phương, đủ dũng để khiến đối thủ dè chừng. Thời Lưu Bị cầm quân, nếu cất riêng một đạo quân cho người khác thì Quan Vũ luôn là người được ủy thác. Nhưng người giữ Kinh Châu phải hiểu được cả Tào Ngụy ở phía bắc lẫn Đông Ngô ở phía đông; phải hiểu rằng tham vọng của đồng minh nhiều khi nguy hiểm không kém sức ép của kẻ địch. Quan Vũ nhìn quá thẳng về phía trước mà khinh nhờn phía sau. Mạch Thành vì thế không chỉ là bi kịch anh hùng sa cơ, mà còn là bài học về giới hạn của khí phách khi thiếu tỉnh táo chính trị.
Cuối cùng, chữ tín đưa Quan Vũ ra khỏi địa hạt của lịch sử và tiểu thuyết bước vào cửa hàng, hội quán, bang hội và đời sống thương nhân. Trong buôn bán, nhất là trong cộng đồng Hoa kiều xa quê, chữ tín không phải trang sức đạo đức; nó là điều kiện sinh tồn. Người ta dựa vào họ hàng, đồng hương, bạn buôn, hội quán, lời hứa và danh dự. Đặt tượng Quan Công trong không gian làm ăn vì thế không chỉ để cầu tài, mà còn để tự răn: lợi nhuận không được nuốt mất danh dự, giao kết không được thành trò lừa, người cùng hội cùng thuyền không được phản nhau khi gặp gió ngược.
Rõ ràng, Quan Vũ không phải là người toàn vẹn ngũ đức. Thế nhưng, chính thất bại và sự thiếu toàn vẹn của Vũ lại là điều khiến hình tượng ông có sức sống lâu dài hơn. Một Quan Vũ khôn ngoan hơn, thỏa hiệp tốt hơn, sống lâu hơn, có thể đã thành một công thần lớn trong sử sách, nhưng mọi nghị lễ có tính tôn giáo thì đều cần có sự hiến tế.
Từ đó sinh ra nhiều tầng Quan Vũ của hậu thế. Quan Công là hình tượng gần dân nhất, bước ra khỏi Tam quốc diễn nghĩa để vào cửa tiệm, nhà riêng, hội quán, phim ảnh và tranh tượng bình dân. Quan Đế là Quan Vũ đã được đế chế hóa, được các triều đại phong kiến nâng thành thần linh của trung nghĩa, trật tự và quyền uy. Võ Thánh đặt ông đối ứng với Khổng Tử như Văn Thánh: một bên gìn giữ đạo học và lễ nhạc, một bên gìn giữ võ đức và khí tiết. Sự nâng cấp ấy cho thấy xã hội truyền thống không chỉ cần người cai trị thành công; nó còn cần những biểu tượng canh giữ ranh giới đạo đức.
Vai trò của Quan Công trong giới thương nhân xuất phát từ một nền tảng rất thực. Thương mại của người Hoa, nhất là trong các mạng lưới di dân, dựa nhiều vào họ hàng, đồng hương, hội quán, bạn buôn, lời hứa và danh dự. Khi luật pháp thiếu vắng hoặc chưa đủ mạnh, chữ tín trở thành vốn liếng- hay nói theo ngôn ngữ của kinh tế học thể chế hiện đại thì đó là “vốn xã hội” (social capital). Quan Công vì thế không đơn thuần là thần tài ban lộc mà còn là thần của giao kết. Đặt tượng ông trong cửa hàng là đặt ra một sự cam kết với bạn hàng, khách hàng và với chính mình rằng lợi nhuận không được nuốt mất danh dự, hợp tác không được biến thành trò lừa, và những người cùng hội cùng thuyền không được phản nhau khi gặp cơn gió ngược.
Ở Đông Nam Á, Quan Công đi theo bước chân người Hoa xuống phương Nam, theo thuyền buôn, phố chợ, hội quán, bang hội đồng hương và mạng lưới thương mại. Tại Chợ Lớn, Bangkok, Penang, Singapore, Jakarta hay Manila, ông không chỉ là nhân vật Tam Quốc được yêu thích, mà là một mảnh quê hương mà người Hoa mang theo mình khi vượt biển. Trong khói hương hội quán, Quan Công giúp cộng đồng tự nhận ra nhau giữa đất khách, làm chứng cho lời hứa, giữ kỷ luật của nhóm, và trấn an nỗi bất an của những người phải sống bằng lòng tin.
Cũng có một điều rất đáng chú ý: Quan Công được thờ bởi nhiều nhóm khác nhau, đôi khi còn đối nghịch nhau. Nhà nước thích ông vì chữ trung và ông cũng là thần hộ mệnh của giới cảnh sát người Hoa. Thương nhân thích ông vì chữ tín. Người luyện võ thích ông vì võ đức. Bang hội thích ông vì nghĩa huynh đệ. Người bình dân thích ông vì uy lực trấn tà. Người di cư thích ông vì ông đem lại cảm giác cộng đồng có một vị thần chung chứng giám.
Để hiểu thấu đáo hiện tượng Quan Đế, không thể không đặt nó trong tương quan với các trường hợp thần hóa võ tướng tương tự, đặc biệt là Trần Hưng Đạo (1228–1300) trong văn hóa Việt Nam và Nhạc Phi (1103–1142) trong văn hóa Trung Hoa.
Đối sánh trên thang ngũ thường, nếu Quan Vũ là hình mẫu thiên lệch – cực mạnh ở nghĩa, tín nhưng yếu ở trí và hẹp ở nhân – thì Trần Hưng Đạo gần với mẫu cân bằng.
Về nhân, Trần Hưng Đạo tha thứ và hòa giải với Trần Quang Khải bằng nghi thức tắm chung nổi tiếng tại bến Bình Than, gạt bỏ hiềm khích nội bộ hoàng tộc vì nghĩa lớn quốc gia; ông cũng dùng người không phân biệt xuất thân, đưa Phạm Ngũ Lão từ người đan sọt thành tướng quốc, Yết Kiêu và Dã Tượng từ thân phận nô bộc thành tướng tâm phúc. Đây là nhân theo nghĩa "ái nhân" mà Khổng Mạnh đề cao, vượt xa lòng nhân chọn lọc của Quan Vũ.
Về nghĩa, hai người đều xuất sắc nhưng khác nội hàm: nghĩa của Quan Vũ là nghĩa với chủ nhân và anh em kết nghĩa, trong khi nghĩa của Trần Hưng Đạo là nghĩa với quốc gia, được thử thách khi ông đặt nghĩa nước lên trên di mệnh báo thù của cha là Trần Liễu.
Về lễ, Trần Hưng Đạo giữ phép quân thần chặt chẽ ngay cả khi nắm thực quyền binh bị, không vướng vào nghi kỵ với hai vua Thánh Tông, Nhân Tông, đối xử hòa nhã và thậm chí chịu nhẫn nhục trước sứ giả Sài Thung nhà Nguyên, hoàn toàn không có những thất thố ngoại giao kiểu Quan Vũ.
Khoảng cách lớn nhất là về trí: Trần Hưng Đạo là tác giả “Binh thư yếu lược” và “Hịch tướng sĩ”, người đề ra chiến lược "thanh dã" và "lấy đoản binh chế trường trận" trước đại quân Nguyên Mông để có thể chiến thắng đạo quân bách chiến bách thắng, lừng danh thế giới.
Về tín, hai người ngang ngửa, đều giữ trọn lời hứa với chủ nhân và với chính mình. Nói khái quát, Quan Vũ là biểu tượng của hai phẩm chất tột đỉnh trên nền tảng đạo đức cá nhân, còn Trần Hưng Đạo là biểu tượng của sự hoàn thiện tương đối đồng đều, gần với mẫu thánh nhân Nho gia hơn nhiều.
Tương ứng với sự khác biệt về nhân cách, hai tín ngưỡng cũng vận hành theo hai logic riêng. Quan Đế được tam giáo Trung Hoa dung hợp thành vị thần đa năng phục vụ một cộng đồng thương nhân di dân, có tính phổ quát xuyên quốc gia: bất cứ nơi nào có người Hoa, ở đó dựng miếu Quan Đế. Đức Thánh Trần hòa vào hệ thống tín ngưỡng bản địa Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng Tứ phủ và đạo Mẫu, hình thành cụm "Trần Triều" với chức năng đặc thù khác hẳn: trừ tà, chữa bệnh, và hộ quốc khi nước nhà lâm nguy.
Ở phía Trung Hoa, Nhạc Phi có lẽ là sự so sánh trực tiếp nhất với Quan Vũ: võ tướng trung nghĩa, bị hãm hại oan ức bởi gian thần Tần Cối, chết bi tráng, được phong vương và thần thánh hóa. Tuy nhiên Nhạc Phi không đạt đến tầm tín ngưỡng của Quan Vũ, một phần vì các tác phẩm văn học về ông không có sức lan tỏa bằng Tam Quốc diễn nghĩa, một phần vì hình tượng Nhạc Phi quá gắn với cuộc kháng chiến chống Kim cụ thể, khó vượt thoát khỏi khung cảnh lịch sử Tống- Kim để trở thành biểu tượng đạo đức trừu tượng.
Nhìn lại toàn cảnh, Quan Vũ là một nhân vật có hồ sơ đạo đức bất toàn theo chuẩn ngũ thường: cực mạnh ở nghĩa và tín, đáng kính ở lễ, hạn chế ở nhân, và khiếm khuyết rõ ở trí. Nghịch lý nằm ở chỗ chính sự bất toàn ấy, đặc biệt khi đi kèm cái chết bi tráng, lại trở thành điều kiện tạo nên sức sống biểu tượng. Trường hợp Quan Vũ là minh chứng cho cách văn hóa Đông Á chuyển hóa nhân vật lịch sử thành biểu tượng phổ quát: không phải qua sự hoàn hảo, mà qua khả năng phản chiếu những khát vọng đạo đức của các cộng đồng theo thời gian cho các mục tiêu và giá trị đạo đức của họ.
Pic: Tranh thangka vẽ Bồ Tát Quan Vũ thời Càn Long.




Wednesday, May 27, 2026

Điềm đạm vô nhân kiến, niên niên trường tự thanh

 https://www.facebook.com/caphethubay/posts/pfbid0Mg8tvhSbZ4MHiYftBkYLKyZbS7vaGY326CFy3wUSe4T4uguUBYksZLEAFhheEDWJl

NNC CAO TỰ THANH, 1 TRONG 10 NHÀ TRUNG QUỐC HỌC THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM: “HÃY CÓ KHÍ CỐT KIÊU NGẠO, CHỨ ĐỪNG CÓ THÁI ĐỘ KIÊU NGẠO”
Học giả Cao Tự Thanh, tên thật là Cao Văn Dũng, sinh năm 1955, là một nhà nghiên cứu độc lập, một trong những chuyên gia Hán Nôm và dịch giả Hoa văn uy tín của Việt Nam. Với gia tài đồ sộ hơn 120 đầu sách nghiên cứu và dịch thuật, ông là một trong mười người Việt Nam hiếm hoi được Đại học Đài Bắc (Đài Loan) đưa vào Chương trình nghiên cứu Các nhà Trung Quốc học trên thế giới. Trong giới trí thức và bạn bè văn nghệ sĩ, ông thường được gọi bằng cái tên thân thương: Hàn nho Nam Bộ.
TỪ BỎ “HÀO QUANG” GIA THẾ, CHỌN CUỘC SỐNG ẨN DẬT KIẾM CƠM BẰNG CON CHỮ
Ít ai biết rằng ông Cao Tự Thanh chính là con trai trưởng của cố Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), chức vụ tương đương Phó Thủ tướng Chính phủ ngày nay. Ông Chín Cần là người gắn liền với công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười và người tiên phong đột phá trong chính sách "bù giá vào lương", góp phần xóa bỏ bao cấp để mở đường cho sự nghiệp Đổi mới đất nước.
Thế nhưng, thay vì bước vào con đường chính trị, Cao Tự Thanh khảng khái từ chối mọi sự trợ cấp của gia đình, chấp nhận ở nhà thuê, sống ẩn dật và lấy việc nghiên cứu, dịch thuật làm nguồn sống chủ yếu. Là một trong 13 sinh viên khóa Hán Nôm chính quy đầu tiên của Việt Nam và tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977, ông từng kinh qua nhiều vị trí tại Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh hay Bảo tàng tỉnh Long An trước khi xin thôi việc nhà nước vào năm 1990.
Ông chia sẻ lý do trở thành dịch giả: “Còn bạn hỏi vì sao tôi làm dịch giả à? Đơn giản là vì… tôi đói. Đói thì đầu gối phải bò. Hồi năm 90, tôi nghỉ việc Nhà nước, vất vả mấy năm, khó khăn nên phải tìm cách kiếm tiền. Và dịch, dịch miết, giờ thành dịch giả chuyên nghiệp".
Trả lời phỏng vấn trên kênh Truyền hình Quốc Hội Việt Nam ông cho biết, để có thể sống được với nghề dịch tại thị trường Việt Nam, ông đã phải dịch theo kiểu, cầm sách chữ Hán đọc và dịch trực tiếp liên tục 10 tiếng 1 ngày ((5 giờ buổi sáng, 5 giờ buổi chiều) để 2 trợ lý đánh máy. Ông nói dịch như thế mới kiếm ăn được để còn nghiên cứu.
Và ở Việt Nam, dịch được như vậy, tính đến thời điểm này mới chỉ có 2 người là ông và học giả Cao Xuân Hạo (người đọc và dịch trực tiếp từ sách tiếng Nga sang tiếng Việt cho sinh viên đánh máy).
"HÃY CÓ KHÍ CỐT KIÊU NGẠO, CHỨ ĐỪNG CÓ THÁI ĐỘ KIÊU NGẠO"
Về cái tên Cao Tự Thanh ông cho biết, ông lấy tên này vì thích câu thơ trong bài “Vịnh sơn tuyền” của Trừ Quang Hy: “Điềm đạm vô nhân kiến, niên niên trường tự thanh” (Lặng lẽ không ai thấy, nhưng năm này qua năm khác tự mình trong sạch).
Khi được hỏi, phải chăng cái tên Cao Tự Thanh - "Thanh tự cao" xuất phát từ tính cách của ông? Ông chỉ cười: "Tôi chẳng tự cao gì, tôi biết tôi rất quan trọng nhưng chỉ là đối với tôi, còn đối với thiên hạ, tôi có quan trọng hay không còn phụ thuộc vào hai điều: một là có thể làm lợi cho họ tới mức nào; hai là, có thể làm hại họ tới mức nào. Nói thế cho nó sòng phẳng. Chứ tôi có giỏi thì bất quá cũng chỉ đọc sách kiếm cơm, đáng cái gì mà lên mặt. Có điều là, tôi chỉ nói cái gì tôi biết, nhưng có vài người cứ lên mặt nói những cái họ không biết, đôi khi ngứa mồm, tôi cũng bình phẩm vài câu nên họ ghét, bảo tôi tự cao thôi.”
Ông cho rằng người ta nên có khí cốt kiêu ngạo chứ đừng nên có thái độ kiêu ngạo. “Người có tài luôn kiêu ngạo, nhưng cái đó khác với khoác lác. Người thật sự giỏi luôn biết mình giỏi tới mức nào, với lại người giỏi luôn thừa nhận cái giỏi của người khác, chỉ những kẻ chưa giỏi đủ mức cần thiết mới không chấp nhận được chuyện người khác cũng giỏi thôi".
Chính tư duy ấy đã giúp ông giữ vững sự độc lập trong tư duy và phong cách sống, làm việc, nghiên cứu suốt nhiều thập kỷ qua.
PHONG CÁCH HỌC THUẬT ĐI TRÊN “BĂNG MỎNG” VÀ KINH NGHIỆM LÀM NGHỀ
Là nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, ông đã có gần 40 công trình như Nguyễn Đình Chiểu với văn hóa Việt Nam, Nho giáo ở Gia Định, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, Văn học Đàng Trong, Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Quốc triều Hương khoa lục, Giai thoại thơ Đường, Thơ văn Nguyễn Thông, Thơ Trần Thiện Chánh, Lịch sử Việt Nam qua chính sử Trung Hoa, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, Tổng Chủ biên các bộ "Một trăm câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn - Thành phố HCM”, “Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử”… Là dịch giả, ông đã dịch khoảng 70 đầu sách Trung Quốc về lịch sử, triết học, y học, văn học cổ, truyện võ hiệp, truyện thiếu nhi,…
“May mà tôi còn biết thân lẻ loi đi vào đời thì phải cẩn thận như đi trên băng mỏng, viết cái gì cũng phải cố nắm vững tư liệu và vấn đề không được sai lại càng không được ẩu càng không được trộm cắp xào xáo của người khác chứ đâu có dám dễ dãi vô tư...”
Ông cho rằng, học để làm và làm để học. Học mà không làm thì rất dễ quên, vì đó là những kiến thức nằm ngoài hoạt động sống của mình: “Bạn cứ đọc hết một quyển từ điển rồi nghĩ lại xem mình nhớ được bao nhiêu chữ. Nhưng nếu bạn tra từ điển toét mắt ba ngày để dịch một chữ thì lần sau gặp lại nó bạn sẽ nhớ ra ngay. Kiến thức chỉ là của mình khi nào nó gắn liền với công việc của mình. Còn làm việc gì mà không học thêm được thì chỉ là lặp lại một số thao tác nhàm chán. Chẳng hạn nhờ dịch quyển Lịch sử thương nhân, tôi mới thấy rõ hơn về quan hệ giữa thương nhân Trung Quốc với Nho giáo, từ đó hiểu thêm về Nho giáo Việt Nam.”
Thứ nhất là phải học vì kiến thức của mình chứ đừng ham muốn chuyện nổi tiếng. Có công thì sẽ có danh, nhưng cái cây có hoa thì dễ bị người ta bẻ, càng ít nổi tiếng lại càng dễ sống. Thứ hai là phải thật cẩn thận, tức phải cố gắng tự phản biện lập luận và kết luận của mình. Thứ ba là phải biết học những người kém hơn hay trẻ hơn mình. Người quân tử cũng có cái dở, kẻ tiểu nhân cũng có cái hay, nhưng sở dĩ người quân tử trở thành quân tử vì học được cái hay của kẻ tiểu nhân, còn kẻ tiểu nhân suốt đời vẫn là tiểu nhân vì chỉ thấy được cái dở của người quân tử. Sau cùng, điều quan trọng nhất là phải biết mình biết gì và mình muốn gì, vì những người không có năng lực sáng tạo thì chỉ trở thành công chức chứ không thể trở thành nhà khoa học hay dịch giả được đâu.

CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN – VÀ ĐIỀU GÌ SẼ XẢY RA NẾU CHÚNG TA BỎ LỠ MỘT GIAI ĐOẠN

 https://www.facebook.com/tamlyhoclagi/posts/pfbid02EeaYVau9fuUgt8jpuPN6Gqxn8fTSLBxHgaiXjRLX3QxmhdRvajtXuyRvS3CKJPsul Một trong những khía c...