https://www.facebook.com/caphethubay/posts/pfbid0Mg8tvhSbZ4MHiYftBkYLKyZbS7vaGY326CFy3wUSe4T4uguUBYksZLEAFhheEDWJl
Linh Tinh Của Chơn
Wednesday, May 27, 2026
Điềm đạm vô nhân kiến, niên niên trường tự thanh
NNC CAO TỰ THANH, 1 TRONG 10 NHÀ TRUNG QUỐC HỌC THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM: “HÃY CÓ KHÍ CỐT KIÊU NGẠO, CHỨ ĐỪNG CÓ THÁI ĐỘ KIÊU NGẠO”
Học giả Cao Tự Thanh, tên thật là Cao Văn Dũng, sinh năm 1955, là một nhà nghiên cứu độc lập, một trong những chuyên gia Hán Nôm và dịch giả Hoa văn uy tín của Việt Nam. Với gia tài đồ sộ hơn 120 đầu sách nghiên cứu và dịch thuật, ông là một trong mười người Việt Nam hiếm hoi được Đại học Đài Bắc (Đài Loan) đưa vào Chương trình nghiên cứu Các nhà Trung Quốc học trên thế giới. Trong giới trí thức và bạn bè văn nghệ sĩ, ông thường được gọi bằng cái tên thân thương: Hàn nho Nam Bộ.
TỪ BỎ “HÀO QUANG” GIA THẾ, CHỌN CUỘC SỐNG ẨN DẬT KIẾM CƠM BẰNG CON CHỮ
Ít ai biết rằng ông Cao Tự Thanh chính là con trai trưởng của cố Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), chức vụ tương đương Phó Thủ tướng Chính phủ ngày nay. Ông Chín Cần là người gắn liền với công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười và người tiên phong đột phá trong chính sách "bù giá vào lương", góp phần xóa bỏ bao cấp để mở đường cho sự nghiệp Đổi mới đất nước.
Thế nhưng, thay vì bước vào con đường chính trị, Cao Tự Thanh khảng khái từ chối mọi sự trợ cấp của gia đình, chấp nhận ở nhà thuê, sống ẩn dật và lấy việc nghiên cứu, dịch thuật làm nguồn sống chủ yếu. Là một trong 13 sinh viên khóa Hán Nôm chính quy đầu tiên của Việt Nam và tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977, ông từng kinh qua nhiều vị trí tại Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh hay Bảo tàng tỉnh Long An trước khi xin thôi việc nhà nước vào năm 1990.
Ông chia sẻ lý do trở thành dịch giả: “Còn bạn hỏi vì sao tôi làm dịch giả à? Đơn giản là vì… tôi đói. Đói thì đầu gối phải bò. Hồi năm 90, tôi nghỉ việc Nhà nước, vất vả mấy năm, khó khăn nên phải tìm cách kiếm tiền. Và dịch, dịch miết, giờ thành dịch giả chuyên nghiệp".
Trả lời phỏng vấn trên kênh Truyền hình Quốc Hội Việt Nam ông cho biết, để có thể sống được với nghề dịch tại thị trường Việt Nam, ông đã phải dịch theo kiểu, cầm sách chữ Hán đọc và dịch trực tiếp liên tục 10 tiếng 1 ngày ((5 giờ buổi sáng, 5 giờ buổi chiều) để 2 trợ lý đánh máy. Ông nói dịch như thế mới kiếm ăn được để còn nghiên cứu.
Và ở Việt Nam, dịch được như vậy, tính đến thời điểm này mới chỉ có 2 người là ông và học giả Cao Xuân Hạo (người đọc và dịch trực tiếp từ sách tiếng Nga sang tiếng Việt cho sinh viên đánh máy).
"HÃY CÓ KHÍ CỐT KIÊU NGẠO, CHỨ ĐỪNG CÓ THÁI ĐỘ KIÊU NGẠO"
Về cái tên Cao Tự Thanh ông cho biết, ông lấy tên này vì thích câu thơ trong bài “Vịnh sơn tuyền” của Trừ Quang Hy: “Điềm đạm vô nhân kiến, niên niên trường tự thanh” (Lặng lẽ không ai thấy, nhưng năm này qua năm khác tự mình trong sạch).
Khi được hỏi, phải chăng cái tên Cao Tự Thanh - "Thanh tự cao" xuất phát từ tính cách của ông? Ông chỉ cười: "Tôi chẳng tự cao gì, tôi biết tôi rất quan trọng nhưng chỉ là đối với tôi, còn đối với thiên hạ, tôi có quan trọng hay không còn phụ thuộc vào hai điều: một là có thể làm lợi cho họ tới mức nào; hai là, có thể làm hại họ tới mức nào. Nói thế cho nó sòng phẳng. Chứ tôi có giỏi thì bất quá cũng chỉ đọc sách kiếm cơm, đáng cái gì mà lên mặt. Có điều là, tôi chỉ nói cái gì tôi biết, nhưng có vài người cứ lên mặt nói những cái họ không biết, đôi khi ngứa mồm, tôi cũng bình phẩm vài câu nên họ ghét, bảo tôi tự cao thôi.”
Ông cho rằng người ta nên có khí cốt kiêu ngạo chứ đừng nên có thái độ kiêu ngạo. “Người có tài luôn kiêu ngạo, nhưng cái đó khác với khoác lác. Người thật sự giỏi luôn biết mình giỏi tới mức nào, với lại người giỏi luôn thừa nhận cái giỏi của người khác, chỉ những kẻ chưa giỏi đủ mức cần thiết mới không chấp nhận được chuyện người khác cũng giỏi thôi".
Chính tư duy ấy đã giúp ông giữ vững sự độc lập trong tư duy và phong cách sống, làm việc, nghiên cứu suốt nhiều thập kỷ qua.
PHONG CÁCH HỌC THUẬT ĐI TRÊN “BĂNG MỎNG” VÀ KINH NGHIỆM LÀM NGHỀ
Là nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, ông đã có gần 40 công trình như Nguyễn Đình Chiểu với văn hóa Việt Nam, Nho giáo ở Gia Định, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, Văn học Đàng Trong, Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Quốc triều Hương khoa lục, Giai thoại thơ Đường, Thơ văn Nguyễn Thông, Thơ Trần Thiện Chánh, Lịch sử Việt Nam qua chính sử Trung Hoa, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, Tổng Chủ biên các bộ "Một trăm câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn - Thành phố HCM”, “Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử”… Là dịch giả, ông đã dịch khoảng 70 đầu sách Trung Quốc về lịch sử, triết học, y học, văn học cổ, truyện võ hiệp, truyện thiếu nhi,…
“May mà tôi còn biết thân lẻ loi đi vào đời thì phải cẩn thận như đi trên băng mỏng, viết cái gì cũng phải cố nắm vững tư liệu và vấn đề không được sai lại càng không được ẩu càng không được trộm cắp xào xáo của người khác chứ đâu có dám dễ dãi vô tư...”
Ông cho rằng, học để làm và làm để học. Học mà không làm thì rất dễ quên, vì đó là những kiến thức nằm ngoài hoạt động sống của mình: “Bạn cứ đọc hết một quyển từ điển rồi nghĩ lại xem mình nhớ được bao nhiêu chữ. Nhưng nếu bạn tra từ điển toét mắt ba ngày để dịch một chữ thì lần sau gặp lại nó bạn sẽ nhớ ra ngay. Kiến thức chỉ là của mình khi nào nó gắn liền với công việc của mình. Còn làm việc gì mà không học thêm được thì chỉ là lặp lại một số thao tác nhàm chán. Chẳng hạn nhờ dịch quyển Lịch sử thương nhân, tôi mới thấy rõ hơn về quan hệ giữa thương nhân Trung Quốc với Nho giáo, từ đó hiểu thêm về Nho giáo Việt Nam.”
Thứ nhất là phải học vì kiến thức của mình chứ đừng ham muốn chuyện nổi tiếng. Có công thì sẽ có danh, nhưng cái cây có hoa thì dễ bị người ta bẻ, càng ít nổi tiếng lại càng dễ sống. Thứ hai là phải thật cẩn thận, tức phải cố gắng tự phản biện lập luận và kết luận của mình. Thứ ba là phải biết học những người kém hơn hay trẻ hơn mình. Người quân tử cũng có cái dở, kẻ tiểu nhân cũng có cái hay, nhưng sở dĩ người quân tử trở thành quân tử vì học được cái hay của kẻ tiểu nhân, còn kẻ tiểu nhân suốt đời vẫn là tiểu nhân vì chỉ thấy được cái dở của người quân tử. Sau cùng, điều quan trọng nhất là phải biết mình biết gì và mình muốn gì, vì những người không có năng lực sáng tạo thì chỉ trở thành công chức chứ không thể trở thành nhà khoa học hay dịch giả được đâu.
Poor Economics (Hiểu nghèo thoát nghèo)
https://www.facebook.com/kienkinhte/posts/pfbid0X4LAspvfThv2R3ewjsz13JBke9RYbrzHEWi7j1eUkCWaq29C3iBTsd3KruW6AsjFl
ĐỊNH KIẾN CỦA CHÚNG TA VỀ NGƯỜI NGHÈO
Chắc hẳn bạn đã từng ít nhất một lần nhìn thấy một gia đình thu nhập thấp, sống trong căn nhà lụp xụp, bữa ăn chật vật nhưng lại sở hữu một chiếc tivi màn hình phẳng, một dàn karaoke, hoặc sẵn sàng vay mượn để làm một đám cưới linh đình.
Phản ứng đầu tiên của phần lớn xã hội là sự phán xét: "Nghèo mà sĩ!", "Không biết quản lý tài chính bảo sao nghèo truyền kiếp!" Chúng ta tự tin cho rằng nếu họ biết nhịn ăn nhịn mặc, tiết kiệm từng đồng để đầu tư vào giáo dục hay công cụ sản xuất, họ chắc chắn đã thoát nghèo.
Nhưng theo các nghiên cứu từ cuốn sách Poor Economics (Hiểu nghèo thoát nghèo) của hai nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Abhijit Banerjee và Esther Duflo, tư duy phán xét đầy bề trên đó của chúng ta hoàn toàn sai lầm.
"Tivi quan trọng hơn thức ăn"
Trong quá trình nghiên cứu tại một ngôi làng hẻo lánh ở Maroc, hai nhà kinh tế học đã gặp một người đàn ông tên là Oucha Mbarbk. Gia đình ông sống trong một ngôi nhà nhỏ không có nước máy hay hệ thống vệ sinh, công việc thì bấp bênh. Dù thức ăn hàng ngày không được đảm bảo, nhưng trong phòng của ông lại chễm chệ một chiếc tivi, một ăng-ten chảo và một đầu đĩa DVD.
Khi được hỏi ông sẽ làm gì nếu có thêm tiền, Oucha trả lời ông sẽ mua thêm thức ăn. Nếu có nhiều tiền hơn nữa? Ông sẽ mua thức ăn ngon hơn.
Vậy tại sao ông lại mua tivi và đầu đĩa khi gia đình còn đang thiếu ăn? Câu trả lời của ông khiến các nhà kinh tế học sững sờ: "Ồ, nhưng tivi quan trọng hơn thức ăn!".
Cơn đói tinh thần đáng sợ hơn cơn đói thể xác
Giới hoạch định chính sách và những người thuộc tầng lớp khá giả thường đóng khung nhu cầu của người nghèo vào yếu tố "lượng calo" để sinh tồn. Nhưng họ đã tàn nhẫn bỏ qua một khía cạnh con người nhất: nhu cầu tinh thần.
Thực tế, cuộc sống ở một ngôi làng nghèo (hay một khu ổ chuột) vô cùng tẻ nhạt và bế tắc. Không có rạp chiếu phim, không có nhà hát, không có quán cà phê để ngồi ngắm những người lạ thú vị qua lại. Quanh năm suốt tháng, họ chỉ đối mặt với sự mệt mỏi của lao động chân tay và sự vô định của tương lai.
Trong bối cảnh đó, một chiếc tivi không phải là món đồ xa xỉ để "khoe mẽ". Nó là liều thuốc giảm đau tâm lý ngay lập tức. Nó mang lại sự giải trí, niềm vui nhỏ nhoi để xoa dịu những áp lực khổng lồ của thực tại. Tương tự, khi có thêm một khoản tiền nhỏ, người nghèo thường không mua thêm ngũ cốc để tăng calo; họ mua đường, trà, hoặc những thực phẩm mang lại sự ngon miệng. Bộ não con người luôn khao khát hương vị và sự hài lòng, chứ không chỉ tồn tại như một cỗ máy sinh học.
Việc chỉ trích họ thiếu tầm nhìn cũng giống như việc một người đang ngồi phòng điều hòa mát mẻ đi mỉa mai một người lao động kiệt sức dưới nắng gắt: "Tại sao lại mua nước ngọt giải khát thay vì tiết kiệm số tiền đó cho kế hoạch 10 năm sau?".
Sự tàn nhẫn của "Bẫy nghèo hình chữ S"
Nhiều người trung lưu thường đứng từ trên cao áp đặt logic của mình: "Tại sao không kiên trì tiết kiệm mỗi ngày một ít để làm vốn?".
Đó là vì chúng ta đang may mắn đứng ở nửa trên của "đồ thị phát triển hình chữ S". Ở vị trí này, một khoản tiết kiệm nhỏ hôm nay, nhờ lãi suất kép và cơ hội, sẽ sinh lời để bạn mua nhà, mua xe trong tương lai.
Nhưng người nghèo mắc kẹt ở vùng đáy sâu nhất của đường cong chữ S. Ở khu vực "bẫy nghèo" này, thu nhập trong tương lai thực chất còn thấp hơn thu nhập hiện tại. Bất kỳ nỗ lực chắt bóp nào hôm nay cũng có thể bị quét sạch ngay ngày mai bởi lạm phát, một cơn bệnh đột xuất, hoặc thời tiết cực đoan làm hỏng mùa màng.
Họ cảm nhận rất rõ quy luật vật lý kinh tế tàn khốc này. Họ hiểu rằng có thắt lưng buộc bụng thêm hàng chục năm thì khoản tích lũy ít ỏi đó cũng không đủ để thay đổi sinh kế hay vượt qua điểm tới hạn của đồ thị. Khi sự thay đổi mang tính đổi đời có vẻ quá xa vời và phi thực tế, thì lựa chọn hợp lý nhất chính là dồn nguồn lực để cải thiện chất lượng sống ngay trong hiện tại. Mua một món đồ giải trí nhỏ hôm nay là một quyết định hoàn toàn logic, bởi sự hy sinh ở hiện tại không hề đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn.
Lời nguyền "Thuế Nhận Thức"
Những người có tài chính ổn định thường không nhận ra rằng môi trường sống của họ đã được thiết kế sẵn các "cú hích" hỗ trợ: nước sạch từ vòi, lịch tiêm chủng y tế được nhắc nhở, và các khoản hưu trí được trích lập tự động. Năng lượng trí óc của họ được giải phóng hoàn toàn để nghĩ về chiến lược thăng tiến hay đầu tư.
Ngược lại, tình trạng thiếu hụt tài chính chính là một loại "thuế đánh vào năng lực nhận thức" của người nghèo. Mỗi sáng thức dậy, họ phải dùng toàn bộ băng thông nhận thức để giải quyết bài toán sinh tồn: tìm nguồn nước an toàn, tính toán từng đồng chi tiêu, và nơm nớp lo sợ rủi ro. Sự căng thẳng này chiếm dụng toàn bộ tâm trí, y hệt một hệ thống máy tính bị treo vì quá tải. Khi năng lực phân tích cạn kiệt, những quyết định mang tính phản xạ ngắn hạn sẽ tự động tiếp quản.
Đừng dạy người nghèo cách tiêu tiền
Những người có thu nhập thấp không hề thiếu trí thông minh hay năng lực tư duy. Sự "thiếu ý chí tiết kiệm" mà xã hội hằng ngày vẫn mỉa mai thực chất lại là một chiến lược thích nghi vô cùng logic khi con người bị dồn ép dưới đáy của bẫy nghèo.
Họ đưa ra những quyết định hoàn toàn hợp lý khi đặt trong bối cảnh sống đầy hạn chế và khắc nghiệt của họ. Lần tới, khi thấy một người lao động mua một chiếc tivi hay uống một cốc trà ngọt đắt tiền, xin đừng vội phán xét. Giống như tất cả chúng ta, họ cũng cần một lý do để mỉm cười và tìm thấy chút ý nghĩa để tiếp tục sống qua ngày.
Monday, May 25, 2026
Làm sao con người chịu trách nhiệm đạo đức nếu không có một “cái tôi” cố định? Nếu vô ngã là chân lý, thì ai hành động và ai gánh chịu nghiệp quả?
https://www.facebook.com/tamlyhoclagi/posts/pfbid0uvFUdwtD7i5Br3TGf3eJuqnpsprRcDcb36huYPbCo3feSQqMncEeBph1LQ6zBCo8l
Làm sao con người chịu trách nhiệm đạo đức nếu không có một “cái tôi” cố định? Nếu Vô ngã là chân lý, thì ai hành động và ai gánh chịu nghiệp quả?
Giả sử bạn vừa trót ăn vụng miếng bánh pizza cuối cùng trong tủ lạnh. Người bạn cùng phòng phát hiện và nổi trận lôi đình. Bạn điềm tĩnh chắp tay, mỉm cười từ bi và nói: *"Anh bạn à, thực ra đâu có cái 'ngã' nào tồn tại. Lõi cốt của tôi chỉ là một dòng chảy các uẩn (skandhas) sinh diệt liên tục. Kẻ ăn miếng bánh đó mười phút trước và người đang đứng trước mặt anh là hai tập hợp hoàn toàn khác nhau. Sao anh lại giận một 'người' không hề tồn tại?"* Chúc bạn may mắn với lập luận đó. Khả năng cao là "dòng chảy các uẩn" của bạn sẽ phải nhận một cú đấm vật lý khá đau đớn.
May thay, triết học Phật giáo Ấn Độ không hề dung túng cho trò ngụy biện trốn tránh trách nhiệm hạng bét này. Trong cuốn sách *Indian Buddhist Philosophy: Metaphysics as Ethics* , tác giả Amber D. Carpenter đã mở ra một mê cung triết học tuyệt đẹp, nơi đạo đức học và siêu hình học đan xoắn vào nhau. Ở trung tâm của mê cung ấy, chúng ta phải đối mặt với một sự thật khó nhằn: Làm thế nào để duy trì một nền tảng trách nhiệm đạo đức vững chắc trên một mặt đất liên tục sụt lún của thuyết Vô ngã (*Anātman*)?
Bằng lăng kính của nền triết học hiện đại pha chút hài hước thâm thúy, chúng ta hãy cùng lặn sâu hơn vào nghịch lý vĩ đại nhất của Phật giáo: Sự tồn tại của những "kẻ vô ngã" đầy trách nhiệm.
1. Cỗ Xe Của Milinda Và Sự Giải Ảo Lịch Sử Của Chữ "Tôi"
Để hiểu được nghịch lý nghiệp quả, trước tiên chúng ta phải tháo dỡ chính mình.
Nhà hiền triết Nāgasena từng dồn Vua Milinda (Menander) vào chân tường bằng một lập luận kinh điển về cỗ xe. Khi nhà vua hỏi Nāgasena thực chất là ai, vị tỳ kheo đáp rằng "Nāgasena" chỉ là một danh xưng thông tục, không có một con người thực sự nào ở đó cả. Vua Milinda phản pháo rằng nếu không có người, vậy ai đang nói chuyện với ông?
Nāgasena bèn lật ngược thế cờ bằng cách hỏi nhà vua đến đây bằng gì. Khi Milinda đáp là bằng cỗ xe, Nāgasena yêu cầu nhà vua chỉ ra cỗ xe là cái gì: Nó có phải là trục xe, bánh xe, thùng xe, hay dây cương không ? Nhà vua đáp "Không". Vậy nó có phải là một thứ gì đó nằm ngoài các bộ phận kia không? Nhà vua cũng đáp "Không" . Cuối cùng, Nāgasena kết luận rằng "cỗ xe" chỉ là một âm thanh, một cái tên gọi, chứ không có thực thể nào mang bản chất "cỗ xe" tồn tại độc lập .
Con người cũng vậy. Theo phân tích của A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma), chúng ta chỉ là một tập hợp (*skandhas* - ngũ uẩn) gồm: sắc (vật chất), thọ (cảm giác), tưởng (nhận thức), hành (các ý chí, cảm xúc) và thức (sự nhận biết). Giống như một đống bừa bộn các linh kiện phụ tùng, ngũ uẩn không có cấu trúc nội tại tất yếu nào định nghĩa chúng là gì. Không có một "tâm hồn" hay một "bản ngã" thường hằng nào ngồi bên trong bảng điều khiển của não bộ để bấm nút. Mọi thứ tồn tại rốt ráo chỉ là những hạt vi trần tâm - vật lý (*dharmas*), sinh ra và diệt đi trong từng sát-na .
Bạn có thể cảm thấy triết lý này hơi... vô tình và làm tổn thương lòng tự trọng khổng lồ của nhân loại. Nhưng theo Carpenter, Đức Phật không xóa bỏ "cái tôi" chỉ để chơi trò trí thức siêu hình. Ngài làm vậy vì mục đích trị liệu đạo đức: Chính hành động bám chấp vào ý niệm về một bản ngã (*I-thinking*) mới thực sự là nguyên nhân cốt lõi của đau khổ.
Ngay khi tôi xác định một thứ là "Tôi", tôi lập tức bị ám ảnh bởi những thứ "Của tôi" (*mine*) . Tôi phân biệt nó với "Kẻ khác", sinh ra khao khát chiếm đoạt những thứ tốt đẹp và sợ hãi những rủi ro đe dọa đến cõi giang sơn bé mọn của mình . Do đó, Vô ngã không phải là một sự trần trụi đáng sợ tước đi quyền làm người của bạn, mà là phương pháp trị liệu tận gốc rễ chứng loạn thần kinh mang tên "tự ái".
2. Hóa Đơn Nghiệp Quả: Nếu Không Có "Tôi", Vậy Ai Phải Trả Tiền?
Nhưng chờ đã. Chúng ta đã chạm đến điểm mâu thuẫn lớn nhất. Nếu loại bỏ "cái tôi", vậy ai là người sẽ gánh nghiệp (*Karma*)?
Đây là đòn tấn công chí tử mà các triết gia phái Nyāya cổ đại nhắm vào Phật giáo. Nếu không có một cá nhân thống nhất tồn tại qua thời gian, thì việc một người phạm tội hôm nay nhưng một tập hợp ngũ uẩn khác trong tương lai phải chịu sự đày đọa là một sự phi lý rành rành. Chẳng khác nào bạn quẹt thẻ tín dụng đi mua sắm thả ga, nhưng hóa đơn lại gửi về cho một gã hàng xóm tội nghiệp!
Sự đáp trả của các triết gia Phật giáo, tiêu biểu là Vasubandhu (Thế Thân) và Buddhaghosa (Phật Âm), vừa mang tính tối giản triết học lại vừa đậm chất thi ca: Thay vì dùng sự đồng nhất (identity), họ dùng sự liên tục nhân quả (causal continuity*).
Hãy tưởng tượng một ngọn lửa cháy lan qua một cánh đồng trong đêm. Ngọn lửa ở canh một và ngọn lửa ở canh ba không đồng nhất về mặt toán học (chúng đốt cháy những nhánh cỏ khác nhau vào những thời điểm khác nhau) . Nhưng chúng ta vẫn gọi nó là "một ngọn lửa" vì có một chuỗi nhân quả liên tục: sát-na lửa trước làm duyên sinh ra sát-na lửa sau .
Nghiệp quả (Karma) hoạt động y hệt như vậy. Vấn đề không phải là "người ở thời điểm t1" bị buộc tội cho hành động của "một người ở thời điểm t2". Các nhà Phật giáo lập luận ngược lại: Rất nhiều hiện tượng rời rạc liên kết với nhau bằng luật nhân quả, và chính vì có sự liên kết nhân quả chặt chẽ đó, chúng ta mới vay mượn ngôn từ để dán nhãn cho nó là "một con người". Trách nhiệm nhân quả có trước sự định danh danh tính.
Nói cách khác, bạn của ngày hôm nay phải đối mặt với bệnh béo phì do bạn của mười năm trước ăn quá nhiều pizza, không phải vì hai người là một "linh hồn" vĩnh cửu không đổi thay, mà vì giữa hai tập hợp hiện tượng đó có một chuỗi dây chuyền nhân quả tâm-vật lý không thể tách rời.
3. Xiên Nướng Của Phái Jaina Và Tâm Lý Học Của Ý Định
Nhưng cái gì thực sự tạo ra "Nghiệp"? Để làm rõ sự sâu sắc của Phật giáo, Carpenter dẫn lại một lời châm biếm vừa hài hước vừa kỳ cục từ văn bản Sūtrakṛtāṅga của phái Jaina (Kỳ Na giáo) .
Những người Jaina, vốn coi trọng *kết quả* hành động hơn là ý định, đã mỉa mai thuyết Nghiệp của Phật giáo như sau:
"Nếu có ai đó đâm một cái xiên qua một người đàn ông hoặc một đứa bé, vì nhầm tưởng đó là một mảnh của vựa lúa (hoặc một quả bầu), rồi đặt lên lửa và nướng nó, thì theo quan điểm (của Phật giáo), đó sẽ là một bữa ăn hoàn hảo để các Đức Phật dùng điểm tâm!".
Ý của phái Jaina là: Nếu Phật giáo cho rằng Nghiệp chỉ sinh ra từ ý định (cetanā), thì một kẻ nướng chín một đứa bé chỉ vì nhầm nó với quả bầu sẽ hoàn toàn vô tội!
Phật giáo không hề bối rối trước đòn khiêu khích này. Họ cho rằng, đúng vậy, Nghiệp chính là ý định (karma là cetanā). Không có ý định thì không có nghiệp đạo đức. Tuy nhiên, "ý định" trong tâm lý học Phật giáo không chỉ là một kế hoạch được phác thảo rõ ràng trong đầu. Việc bạn vô tình xiên một người vì tưởng là quả bầu cho thấy tâm trí bạn đang ở trong trạng thái bất cẩn, vội vã, hoặc bị chi phối bởi những suy nghĩ u ám nào đó. Sự thiếu chú tâm (careless attention) cũng là một dạng trạng thái tâm lý bắt nguồn từ vô minh và sai lầm. Hành vi vô ý không khiến bạn thành kẻ giết người máu lạnh, nhưng nó phản ánh một chuỗi nhận thức bị lỗi, và chính chuỗi nhận thức đó sẽ tạo ra quả báo tương ứng. Triết học Phật giáo không đánh giá hành vi qua lăng kính tòa án hình sự, mà qua lăng kính của sự thanh lọc nội tâm.
4. Lời Phản Biện Của Nietzsche: Trở Thành Đá Hay Trở Thành Biển?
Sự quyết liệt trong việc triệt tiêu bản ngã và dập tắt các khao khát phiền não (*kleśas*) của Phật giáo đã vấp phải một sự phản kháng mạnh mẽ ở phương Tây, tiêu biểu nhất là từ triết gia Friedrich Nietzsche .
Nietzsche cáo buộc Phật giáo (cùng với Kitô giáo) là một thứ "bản năng suy đồi" (degenerating instinct), một hệ tư tưởng quay lưng lại với cuộc sống (*life-denying*). Đối với ông, một sinh thể tràn đầy sức sống phải biết thốt lên tiếng "Có" (Yes-saying) một cách ngạo nghễ trước mọi khía cạnh của sự tồn tại, ôm trọn lấy cả những đớn đau, bi kịch hay tội lỗi . Nếu sự giải thoát (*nirvāṇa*) đồng nghĩa với việc dập tắt mọi ham muốn (hay như những người phản đối gọi là biến vạn vật thành "đống tro tàn" - cinderheaps) , thì theo Nietzsche, lý tưởng của Phật giáo thật thảm hại. Làm sao một người thông minh lại thấy cái cảnh không còn niềm vui lẫn ý thức ấy là hấp dẫn?
Carpenter đã khéo léo gỡ rối định kiến này. Việc dập tắt khát ái không đồng nghĩa với một sự vô cảm lạnh lẽo hay "cuộc sống của một hòn đá" (*life of a stone*). Trong khi lên án dục vọng giác quan là mang lại "ít khoái cảm, nhiều đau khổ", Phật giáo lại thừa nhận và nuôi dưỡng những trạng thái tích cực phi thường.
Sự vắng mặt của cái tôi thực chất mở đường cho những cảm xúc cao thượng mà Phật giáo gọi là Tứ Vô Lượng Tâm (divine abidings): lòng từ (*maitri*), lòng bi (karuna), niềm hoan hỷ trước hạnh phúc của người khác (muditā) và sự xả bỏ bình thản (upeksa). Khi vị Bồ Tát (Bodhisattva) cởi bỏ được lớp màng bọc của cái "Tôi" và thấu hiểu thuyết duyên khởi, ngài không còn ranh giới giữa nỗi đau của mình và nỗi đau của thế gian. Lòng trắc ẩn lúc này không phải là một nghĩa vụ khiên cưỡng, mà là phản ứng tự nhiên và chân thực nhất trước một thực tại không có ranh giới ngã/tha.
Thay vì bám víu vào cái tôi để rồi tự giam mình trong một câu chuyện đầy lo âu và sợ hãi, việc giải phóng bản ngã giúp ta thực sự tương tác với thực tại một cách toàn vẹn.
Kết Luận: Trị Liệu Siêu Hình Học
Cuốn sách của Amber D. Carpenter nhắc nhở chúng ta một chân lý giản dị nhưng có sức sát thương cao của triết học Ấn Độ cổ đại: Siêu hình học là một phương pháp trị liệu.
Việc thừa nhận mình là "vô ngã" không phải là một tấm kim bài miễn tử để thoái thác trách nhiệm mỗi khi ta làm hỏng việc. Trái lại, nó tước đi của chúng ta cái hầm trú ẩn mang tên "Bản chất". Khi không còn một linh hồn cố định để đổ lỗi ("Tính tôi nó thế!"), ta bị ném thẳng vào trung tâm của một mạng lưới nhân quả khổng lồ (*dependent origination*). Nơi đó, mỗi ý định, mỗi ánh nhìn, mỗi lần ta chọn buông bỏ hay bám chấp đều trực tiếp nhào nặn ra thực tại của chính mình và của vũ trụ ở khoảnh khắc tiếp theo .
Đó là một gánh nặng nhân quả vô hình nhưng vĩ đại. Nhưng đồng thời, đó cũng là sự tự do tuyệt đối. Chúng ta không có một "cái tôi" cố định, và đó chính là lý do vì sao chúng ta có khả năng thay đổi, khả năng buông bỏ, và khả năng chịu trách nhiệm cao nhất cho từng rung động nhỏ bé của tâm thức mình.
Jobpocalypse — hay viễn cảnh tận thế việc làm
https://www.facebook.com/thsonvt/posts/pfbid032d9RuBxPmbyckyKBYwHwgd8mmFhM5ZLqCi9h1QqyfffctZr7YZ2xaXgUhbPVvNgGl
Mùa này là mùa học sinh cấp 3 chuẩn bị thi tốt nghiệp để xét tuyển vào đại học. Vài bạn bè là phụ huynh nhắn tin Sơn hỏi mấy câu kiểu như là "Năm nay con tui thi khối A1 thì nên học ngành gì?" hay là "Con anh năm nay định thi vào ngành Khoa học máy tính để tiến tới học về AI và Big Data. Em xem ra làm lập trình liệu có tiêu tùng vì AI sẽ thay thế không?"
Viết nhanh vài dòng đi thẳng vào vấn đề luôn:
** Các bậc khổng lồ của ngành như Andrew Ng hay là ông David M. Solomon - Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Goldman Sachs - gần đây đều đưa ra các luận điểm phản bác việc thổi phồng quá mức về việc biến mất của công việc tương lai (thuật ngữ là Jobpocalypse). (các bài gốc của họ nằm trong còm).
** Jobpocalypse — hay viễn cảnh tận thế việc làm — thực ra là một sự định giá lại triệt để đối với nỗ lực của con người. Chúng ta đã bước vào một “nền kinh tế của phán đoán” (Judgment Economy). Khả năng tự mình thực thi một nhiệm vụ giờ đây có giá trị thấp hơn đáng kể so với khả năng đưa ra định hướng và cung cấp bối cảnh.
Điều này tạo ra một nghịch lý đáng sợ cho thế hệ tiếp theo: nếu những nấc thang đầu tiên trong sự nghiệp đang dần bị tự động hóa, thì một nhân sự junior sẽ học được “tri thức ngầm” (Tacit Knowledge) cần thiết để trở thành chuyên gia thâm niên (senior expert) bằng cách nào?
Hệ thống giáo dục của chúng ta vẫn đang tiếp tục đào tạo những kỹ năng “được mã hóa” ("codified" skills) — những kỹ năng mà AI về cơ bản đã khiến trở nên lỗi thời. Thách thức thực sự của kỷ nguyên AI không chỉ là thiếu việc làm, mà là sự biến mất của chính môi trường đào tạo.
** Tại Việt Nam, một số chương trình đào tạo "fresher" của doanh nghiệp (theo mình biết thì doanh nghiệp nước ngoài) theo kiểu "đo ni đóng giày" của doanh nghiệp giúp cho các bạn mới ra trường sau khi hoàn thành chương trình sẽ có trình độ của người có 1-2 năm kinh nghiệm.
** Một số doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam họ tối ưu bài toán nhân sự, họ tuyển ít hay là duy trì lượng rất ít nhân sự nhưng mà họ cho nhân sự sử dụng AI và AI hỗ trợ nhân sự để đạt công suất cao nhất có thể. Ngoài ra thì họ cũng yêu cầu nhân sự có tính thực chiến cao hay là sẵn sàng lao vào việc thực chiến.
** Chương trình đào tạo solo-builder bởi DreamLab của tiến sĩ Michael cũng đáng lưu tâm.
** Anh bạn Tingxi - cựu giám đốc phần mềm của Nvidia Việt Nam - đề nghị mình hỗ trợ buổi workshop về lớp AI Native Engineering. Mình hỗ trợ anh ấy với việc xin được ít token của Codex cho các bạn tham gia workshop để thực hành.
Wednesday, May 13, 2026
Saturday, May 9, 2026
Khi kết hôn hãy lựa chọn 4 kiểu gia đình sau
https://www.facebook.com/reel/2105242476686191
- Môn đăng hộ đối
- Lương thiện
- Bữa ăn gia đình
- Quan niệm tài chính tốt
Friday, May 8, 2026
SỰ THIẾU VẮNG TÍNH NAM LÀNH MẠNH TỪ NGƯỜI CHA KHIẾN NGƯỜI CON GÁI MẤT KẾT NỐI VỚI TÍNH NỮ CỦA MÌNH NHƯ THẾ NÀO?
https://www.facebook.com/tamlyhoclagi/posts/pfbid06aNVCmenSy8dArANujdsGku5X13ya3XdPPKCuSVeS6NmKxms9C1wszGaXZNcJ9dml
SỰ THIẾU VẮNG TÍNH NAM LÀNH MẠNH TỪ NGƯỜI CHA KHIẾN NGƯỜI CON GÁI MẤT KẾT NỐI VỚI TÍNH NỮ CỦA MÌNH NHƯ THẾ NÀO?
Bên trong mỗi con người, dù là nam hay nữ, đều tồn tại song song hai dòng năng lượng tính nam và tính nữ như hai mặt âm - dương. Đây không đơn thuần là vấn đề sinh học, mà là những phẩm chất tâm lý, cảm xúc và cách con người phản ứng với thế giới. Hiểu và cân bằng hai yếu tố này chính là chìa khóa để con người sống hài hòa với chính mình và người khác.
Tính nam thường gắn liền với sự lý trí, hành động, mục tiêu, kỷ luật, bảo vệ và dẫn dắt. Tính nam giúp con người xây dựng cấu trúc, đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm. Còn tính nữ lại là cảm xúc, trực giác, sáng tạo, đón nhận và nuôi dưỡng. Tính nữ giúp con người biết đừng lại, cảm nhận và nuôi dưỡng những mối quan hệ.
Trong tâm lý học của Carl Jung, khái niệm "anima" và "animus" dùng để nói đến phần nữ tính trong đàn ông và phần nam tính trong phụ nữ. Đối với người phụ nữ "animus" có thể nâng đỡ và làm vững chắc hành trình phát triển trong suốt cuộc đời.
Người cha chính là hình mẫu tính nam đầu tiên mà người con gái được tiếp cận, từ đó hình thành nên "animus" trong cô. Trong hình dung lý tưởng, người cha là mỏ neo, là nơi để cô gái bám vào, là điểm tựa vững vàng giúp cô định hình bản thân giữa dòng đời chảy trôi. Thế nhưng khi người cha vắng bóng, sự phát triển cái tôi của cô diễn ra trên nền của nỗi mất mát. Chính điều đó ảnh hưởng đến cách cô đối diện, hoặc không thể đối diện với những biến cố tất yếu trong cuộc sống.
Nếu người con gái lớn lên cùng với một người bố lạnh lùng, xa cách, áp lực, chì chiết, kiểm soát v.v. yếu tố nam tính trong cô sẽ là sự thống trị, dẫn đến phần tính nữ bị tổn thương. Những ước muốn bị dồn nén, sự lựa chọn và định hướng trở nên mơ hồ - như thể người con gái ấy đang tránh né chính con đường của mình. Ví dụ, khi bị "animus" tiêu cực chi phối, cô sẽ tự cho rằng mình xấu xí, và chính điều đó ngăn cản cô bước đi trên hành trình sống, khiến cô không thể biểu lộ tình cảm qua thân thể. Không dừng lại ở đó, mặt tối của "animus" còn hiện lên như một tiếng nói cay độc bên trong, một kẻ phê phán, một quan tòa, một tên bạo hành nội tâm luôn thì thầm rằng cô vô giá trị, ngu ngốc, không đáng yêu thương. Tiếng nói ấy phá hỏng những mối quan hệ tình cảm, phá hoại mọi cơ hội, làm tê liệt sức sống, lay chuyển niềm tin vào bản thân.
"Animus" có thể là một nguồn sáng tạo tuyệt vời hoặc cũng có thể trở thành một thế lực hủy diệt khôn lường, tất cả phụ thuộc vào cách người phụ nữ đối diện và gắn bó với nó. Sự hòa hợp không phải là đầu hàng hay phục tùng mà là làm chủ và điều chỉnh animus sao cho phù hợp với bản sắc riêng của mình. Khi người phụ nữ thiết lập được mối liên hệ nội tâm với nguồn năng lượng nam tính mềm dẻo và cởi mở ấy, cô sẽ chạm được vào sự sống động, lòng rộng mở, tình yêu, sự tự tin và cảm giác an toàn từ sâu thẳm bên trong mình.
"Animus" chứa đựng cả một tổ hợp cảm xúc mà người phụ nữ học được về nam giới từ cả cha lẫn mẹ. Nó phản ánh cách animus vận hành trong cô, những tương tác giữa hình ảnh người cha và người mẹ, cũng như cách hai người hiện diện trong thế giới của cô. Khi những khía cạnh này đủ linh hoạt, chúng có thể hình thành nên một kiểu gắn bó lành mạnh, nơi nhu cầu được nương tựa và sự tin cậy lẫn nhau cùng tồn tại. Nhưng nếu người cha vắng bóng, thờ ơ hay không đủ nâng đỡ, người con gái sẽ dễ rơi vào cảm giác thất vọng, hụt hẫng, những lời hứa mãi không thành hiện thực. Khi đó, cô không có hình mẫu về việc kết đôi, học cách hàn gắn, hay hiểu thế nào là tình yêu.
(Sách "Ảnh hưởng từ sự thiếu vắng người cha lên cuộc đời con gái")
Subscribe to:
Posts (Atom)
Điềm đạm vô nhân kiến, niên niên trường tự thanh
https://www.facebook.com/caphethubay/posts/pfbid0Mg8tvhSbZ4MHiYftBkYLKyZbS7vaGY326CFy3wUSe4T4uguUBYksZLEAFhheEDWJl NNC CAO TỰ THANH, 1 TRON...
-
http://www.cgvdt.vn/xa-hoi/gia-dinh/goc-nha/chuyen-cu-ke-lai-chet-duoi-tren-can_a12686 https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/C%E1%BB%95_h%...
-
Căn cứ quy định tại Bộ luật hình sự 2015 thì có thể hiểu nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có ...
-
https://vtc.vn/thien-tai-co-nghia-la-gi-ar670939.html Nguyên gốc từ tiếng Phạn là Sàdhu, phiên sang âm Hán là Sa độ, Tát. Nghĩa của nó là t...